RSS

Bài 37. Vấn đề khai thác thế mạnh ở Tây Nguyên (Địa lý 12)

03 Feb
Bài 37. Vấn đề khai thác thế mạnh ở Tây Nguyên (Địa lý 12)

*Khái quát

– Diện tích: 54,7 nghìn km2, (chiếm 16,5% diện tích cả nước)
– Số dân 5.525,8 nghìn người (6,1% dân số cả nước- năm 2014).
– Gồm các tỉnh: Đăk Lăk, Lâm Đồng và Đăk Nông, Kon Tum, Gia Lai
-Tiếp giáp: Duyên hải Nam Trung Bộ, Đông Nam Bộ, Campuchia và Lào. Đây là vùng duy nhất ở nước ta không giáp biển, cũng khá thuận lợi giao lưu với các vùng, có vị trí chiến lược về an ninh, quốc phòng và xây dựng kinh tế không chỉ của vùng mà còn cả nước.

Hinh 37.1. Khai thác một số thế mạnh chủ yếu về nông, lâm nghiệp ở Tây Nguyên

Hinh 37.1. Khai thác một số thế mạnh chủ yếu về nông, lâm nghiệp ở Tây Nguyên

1. Phát triển cây công nghiệp lâu năm

a. Điều kiện phát triển 
* Thuận lợi
+ Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên
+ Đất trồng và địa hình : đất đỏ bazan có diện tích khá lớn 1,4 triệu ha, có tầng phong hóa sâu, giàu chất dinh dưỡng; đất phân bố trên các cao nguyên xếp tầng, địa hình tương đối bằng phẳng thuận lợi để xây dựng các vùng chuyên canh trên quy mô lớn.
+ Khí hậu : mang tính chất cận XĐ, thuận lợi cho việc phát triển cây cà phê, khí hậu có sự phân hóa theo độ cao (400-500m có khí hậu nóng, trên 1000m có khí hậu mát mẻ), tạo điều kiện để đa dạng hóa các loại cây trồng. Mùa mưa cung cấp nước, mùa khô thuận lợi cho phơi sấy, bảo quản sản phẩm.
+ Tài nguyên nước : có hệ thống sông ngòi và nguồn nước ngầm có gía trị trong việc cung cấp nguồn nước tưới cho các vùng chuyên canh.
+ Điều kiện kinh tế – xã hội
+ Dân cư, nguồn lao động : nơi tập trung nguồn lao động di cư đông đảo, lao động có nhiều kinh nghiệm trong việc trồng và chế biến cây cà phê. Tuy nhiên, trình độ lao động còn thấp kém, thiếu lao động lành nghề, lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật.
+ Cơ sở VC-KT và kết cấu hạ tầng : được chú trọng đầu tư phát triển các khu công nghiệp và các nhà máy chế biến trong vùng.
+ Các yếu tố khác : thị trường (Bắc Mĩ, Châu Âu…), chính sách của Nhà nước…

*Khó khăn & biện pháp khắc phục:

– Mùa khô kéo dài cần giải quyết vấn đề thuỷ lợi, mùa mưa cần có biện pháp chống xói mòn đất.

– Thiếu lao động lành nghề, đã thu hút lao động từ nơi khác đến tạo ra tập quán sản xuất mới.

– Bảo đảm LT-TP cho vùng thông qua trao đổi hàng hóa với các vùng khác, tạo điều kiện ổn định diện tích cây công nghiệp.

– Hoàn thiện quy hoạch các vùng chuyên canh cây công nghiệp, mở rộng diện tích có kế hoạch, đi đôi với việc bảo vệ rừng và phát triển thuỷ lợi.

– Đa dạng hoá cơ cấu cây công nghiệp. Phát triển mô hình KT vườn trồng café, hồ tiêu… để nâng cao hiệu quả sản xuất.

– Nâng cấp mạng lưới GTVT như đường 14 xuyên Tây Nguyên, đường 19, 26 nối với đồng bằng duyên hải.

– Đẩy mạnh các cơ sở chế biến, XK & thu hút đầu tư nước ngoài.

b. Tình hình sản xuất và phân bố

+ Cà phê:
. Cà phê là cây công nghiệp số 1 của vùng, diện tích 450 nghìn ha chiếm 4/5 diện tích cà phê cả nước (năm 2006), tỉnh có diện tích cà phê lớn nhất nước là Đắc Lắc (259.000 ha), Buôn Ma Thuột nổi tiếng cà phê có chất lượng cao.
. Cà phê chè được trồng nhiều trên các cao nguyên tương đối cao, khí hậu mát hơn như : Gia Lai, Kon Tum, Lâm Đồng.
. Cà phê vối được trồng chủ yếu vùng nóng hơn, tiêu biểu là ở Đắk Lắk.

+ Chè: trồng chủ yếu ở Lâm Đồng (tỉnh có diện tích chè lớn nhất nước) và Gia Lai đây là các cao nguyên cao có khí hậu mát mẻ. Chè búp thu hoạch được đem chế biến tại các nhà máy chế biến là Biển Hồ (Gia Lai), Bảo Lộc (Lâm Đồng).
+ Cao su đứng thứ 2 cả nước (sau ĐNB), trồng nhiều ở Gia Lai, Đắc Lắc.
+ Dâu tằm : có diện tích lớn nhất cả nước, tập trung chủ yếu ở Lâm Đồng (Bảo Lộc, Đơn Dương, Đức Trọng).
+ Ngoài ra còn : hồ tiêu, điều, bông... chủ yếu ở Gia Lai, Đắk Lắk.

2. Vấn đề khai thác và chế biến lâm sản
a. Tiềm năng
– Tây Nguyên là “kho vàng xanh” của cả nước. Vào đầu thập kỉ 90, rừng che phủ 60% diện tích lãnh thổ. Còn nhiều rừng gỗ quý (cẩm lai, gụ mật, nghiến, trắc, sến), nhiều chim, thú quý (voi, bò tót, gấu…). rừng chiếm 36% diện tích đất có rừng và 52% sản lượng gỗ có thể khai thác của cả nước.
– Rừng có vai trò cân bằng sinh thái (bảo vệ nguồn nước ngầm, chống xói mòn đất, điều hòa khí hậu) và hạn chế lũ lụt cho các vùng đồng bằng.
b. Thực trạng
Tài nguyên rừng đang bị suy giảm :
– Cuối thập kỉ 80 – 90 sản lượng gỗ khai thác hàng năm từ 600 – 700 nghìn m3
– Hiện nay khoảng 200 – 300 nghìn m3/ năm.
– Nạn phá rừng gia tăng, làm giảm sút nhanh lớp phủ rừng và giảm sút trữ lượng các loại gỗ quý, đe dọa môi trường sống của các loài chim, thú quý, hạ mực nước ngầm về mùa khô.
– Phần lớn gỗ khai thác được đem xuất ra ngoài dưới dạng gỗ tròn chưa qua chế biến.
– Một phần đáng kể gỗ cành, ngọn chưa được tận thu.
Do đó, phải tăng cường bảo vệ vốn rừng bằng nhiều biện pháp.
c. Biện pháp bảo vệ
– Phải ngăn chặn nạn phá rừng.
– Khai thác rừng hợp lí đi đôi với khoanh nuôi, trồng rừng mới.
– Công tác giao đất giao rừng cần được đẩy mạnh.
– Đẩy mạnh việc chế biến gỗ tại địa phương.
– Hạn chế việc khai thác và xuất khẩu gỗ tròn.

 

3. Khai thác thủy năng kết hợp với thủy lợi

Hình 37.2. Các bậc thang thủy điện ở Tây Nguyên

Hình 37.2. Các bậc thang thủy điện ở Tây Nguyên

– Tiềm năng thủy điện lớn, tập trung trên hệ thống các sông Xê Xan, Xrê Pôk, Đồng Nai…
– Các công trình thủy điện đã hoạt động và đang xây dựng:
+ Chỉ từ thập kỷ 90 của thế kỷ XX trở lại đây, hàng loạt các công trình thủy điện lớn đã và đang được xây dựng.
+ Theo thời gian các bậc thang thủy điện sẽ được hình thành trên các hệ thống sông nổi tiếng của TN như:
– Trên sông Xê Xan : có thủy điện Yaly công suất 720 MW (hoạt động 4/2002), bậc dưới là thủy điện Xê Xan 3, Xê Xan 3A, và Xê Xan 4; ở thượng lưu của Yaly là thủy điện Plây Krông . Dòng Xê Xan cho tổng công suất là 1500 MW.
– Trên dòng Xrê Pốk : đã có thủy điện Đrây H’linh (12 MW), đang xây dựng 6 bậc thang thủy điện là: Buôn Kuôp (280 MW, Buôn Tua Srah (85 MW, khởi công cuối năm 2004), Xrê Pôk 3 (137 MW), Xrê Pôk 4 (33 MW), Đức Xuyên (58 MW), Đrây H’linh đã mở rộng lên 28 MW. Tổng công suất của dòng Xrê Pôk là 600 MW.
– Trên hệ thống sông Đồng Nai : trước đây đã có thủy điện Đa Nhim (160 MW), hiện đang xây dựng thủy điện Đại Ninh (300 MW), Đồng Nai 3 (180 MW), Đồng Nai 4 (340 MW).

=>Ý nghĩa: Đây là điều kiện thuận lợi cho phát triển KT-XH của vùng, đặc biệt việc khai thác & chế biến quặng bô-xit của vùng. Các hồ thuỷ điện còn đem lại nguồn nước tưới quan trọng trong mùa khô và có thể khai thác phục vụ du lịch và nuôi trồng thuỷ sản

 

TRẢ LỜI CÂU HỎI LIÊN QUAN

? Đọc bản đồ Hành chính Việt Nam và bản đồ Địa lí tự nhiên Việt Nam, hãy phân tích ý nghĩa vị trí địa lí của Tây Nguyên
Cung cấp nguyên liệu cho CN chế biến, góp phần đẩy nhanh quá trình CNH ở Tây Nguyên.
– Tạo nguồn hàng XK quan trọng, góp phần lớn trong việc thu ngoại tệ cho vùng và cả nước.
– Tạo việc làm cho một bộ phận lao động của địa phương, tạo nguồn thu nhập quan trọng cho đồng bào các dân tộc thiểu số, hình thành tập quán SX mới, hạn chế tình trạng du canh, du cư.
– Thu hút dân cư và lao động từ các vùng khác trong cả nước, góp phần phân bố lại dân cư và lao động trong cả nước, tham gia vào quá trình phân công SX.
– Phát triển cây CN lâu năm còn có tác dụng điều hòa khí hậu, nguồn nước ngầm, hạn chế xói mòn đất (nếu trồng ở những vùng đất thích hợp, nó không thể thay thế được vai trò của rừng ở Tây Nguyên).

? Đọc Atlat Địa lí Việt Nam, hãy xác định các vùng đất badan và đối chiếu với các vùng phân bố cây công nghiệp ở Tây Nguyên.

Các vùng đất badan ở Tây Nguyên cũng là nơi phân bố cây công nghiệp:

Vùng đất badan

Cây công nghiệp

Kon Tum

Cà phê

Plei Ku

Cà phê, cao su, hồ tiêu, Điều, Chè, Bông, Thuốc lá, Đậu tương, Lạc, Mía.

Đăk Lăk

Cà phê, cao su, hồ tiêu, Điều, Bông, Mía.

Lâm Viên

Cà phê

Mơ Nông

Cà phê, cao su, hồ tiêu, Điều, Lạc.

Di Linh

Cà phê, Chè.

? Hãy trình bày các điều kiện tự nhiên và kinh tế – xã hội đối với sự phát triển cây cà phê ở Tây Nguyên. Nêu các khu vực chuyên canh cà phê và các biện pháp để có thể phát triển ổn định cây cà phê ở vùng này.

* Thuận lợi
+ Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên
+ Đất trồng và địa hình : đất đỏ bazan có diện tích khá lớn 1,4 triệu ha, có tầng phong hóa sâu, giàu chất dinh dưỡng; đất phân bố trên các cao nguyên xếp tầng, địa hình tương đối bằng phẳng thuận lợi để xây dựng các vùng chuyên canh cây cà phê trên quy mô lớn.
+ Khí hậu : mang tính chất cận XĐ, thuận lợi cho việc phát triển cây cà phê, khí hậu có sự phân hóa theo độ cao (400-500m có khí hậu nóng, trên 1000m có khí hậu mát mẻ), tạo điều kiện để đa dạng hóa các laọi cây cà phê. Mùa mưa cung cấp nước, mùa khô thuận lợi cho phơi sấy, bảo quản sản phẩm.
+ Tài nguyên nước : có hệ thống sông ngòi và nguồn nước ngầm có gía trị trong việc cung cấp nguồn nước tưới cho các vùng chuyên canh.
+ Điều kiện kinh tế – xã hội
+ Dân cư, nguồn lao động : nơi tập trung nguồn lao động di cư đông đảo, lao động có nhiều kinh nghiệm trong việc trồng và chế biến cây cà phê. Tuy nhiên, trình độ lao động còn thấp kém, thiếu lao động lành nghề, lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật.
+ Cơ sở VC-KT và kết cấu hạ tầng : được chú trọng đầu tư phát triển các khu công nghiệp và các nhà máy chế biến trong vùng.
+ Các yếu tố khác : thị trường (Bắc Mĩ, Châu Âu…), chính sách của Nhà nước…
* Khó khăn
– Thiếu nguồn nước tưới vào mùa khô.
– Lao động còn hạn chế, trình độ chuyên môn chưa cao; công nghiệp chế biến chưa phát triển mạnh, thị trường chưa ổn định.
*Các khu vực chuyên canh cà phê
+ Cà phê là cây công nghiệp số 1 của vùng, diện tích 450 nghìn ha chiếm 4/5 diện tích cà phê cả nước (năm 2006), tỉnh có diện tích cà phê lớn nhất nước là Đắk Lắk (259.000 ha), Buôn Ma Thuột nổi tiếng cà phê có chất lượng cao.
+ Cà phê chè được trồng nhiều trên các cao nguyên tương đối cao, khí hậu mát hơn như : Gia Lai, Kon Tum, Lâm Đồng.
+ Cà phê vối được trồng chủ yếu vùng nóng hơn, tiêu biểu là ở Đắk Lắk.
*Các giải pháp để ổn định và phát triển cây cà phê ở Tây Nguyên
– Phải đảm bảo đủ nước tưới cho cà phê trong mùa khô.
– Phải giữ được nguồn nước ngầm trong mùa khô. Vì vậy, việc mở rộng diện tích cà phê phải có kế hoạch và cơ sở khoa học đi đôi với bảo vệ vốn rừng.
– Ngăn chặn nạn di cư tự phát lên Tây Nguyên.
– Phát triển rộng rãi mô hình kinh tế vườn, trang trại.
– Tăng cường đầu tư cơ sở hạ tầng GTVT.
– Có chính sách ưu đãi đối với vùng SX cà phê.
– Đảm bảo cung cấp đầy đủ lương thực, thực phẩm cho các vùng chuyên canh để ổn định diện tích trồng cây cà phê.
– Thực hiện chuyển giao công nghệ cho đồng bào các dân tộc ít người về trồng và chế biến cà phê.
– Tăng cường cơ sở vật chất – kỹ thuật cho các vùng chuyên canh cây cà phê, xây dựng các cơ sở CN chế biến gắn với các vùng chuyên canh cà phê, đẩy mạnh XK.

? Tại sao trong khai thác tài nguyên rừng ở Tây Nguyên, cần hết sức chú trọng khai thác đi đôi với tu bổ và bảo vệ vốn rừng
*Tiềm năng
– Tây Nguyên là “kho vàng xanh” của cả nước. Vào đầu thập kỉ 90, rừng che phủ 60% diện tích lãnh thổ. Còn nhiều rừng gỗ quý (cẩm lai, gụ mật, nghiến, trắc, sến), nhiều chim, thú quý (voi, bò tót, gấu…). rừng chiếm 36% diện tích đất có rừng và 52% sản lượng gỗ có thể khai thác của cả nước.
– Rừng có vai trò cân bằng sinh thái (bảo vệ nguồn nước ngầm, chống xói mòn đất, điều hòa khí hậu) và hạn chế lũ lụt cho các vùng đồng bằng.
* Thực trạng
Tài nguyên rừng đang bị suy giảm :
– Cuối thập kỉ 80 – 90 sản lượng gỗ khai thác hàng năm từ 600 – 700 nghìn m3.
– Hiện nay khoảng 200 – 300 nghìn m3/ năm.
– Nạn phá rừng gia tăng, làm giảm sút nhanh lớp phủ rừng và giảm sút trữ lượng các loại gỗ quý, đe dọa môi trường sống của các loài chim, thú quý, hạ mực nước ngầm về mùa khô.
– Phần lớn gỗ khai thác được đem xuất ra ngoài dưới dạng gỗ tròn chưa qua chế biến.
– Một phần đáng kể gỗ cành, ngọn chưa được tận thu.
Do đó, phải tăng cường bảo vệ vốn rừng bằng nhiều biện pháp.
* Biện pháp bảo vệ
– Phải ngăn chặn nạn phá rừng.
– Khai thác rừng hợp lí đi đôi với khoanh nuôi, trồng rừng mới.
– Công tác giao đất giao rừng cần được đẩy mạnh.
– Đẩy mạnh việc chế biến gỗ tại địa phương.
– Hạn chế việc khai thác và xuất khẩu gỗ tròn.

? Hãy chứng minh rằng thế mạnh về thủy điện của Tây Nguyên đang được phát huy và điều này sẽ là động lực cho sự phát triển kinh tế – xã hội của vùng.

*Thế mạnh về thủy điện của Tây Nguyên đang được phát huy
– Tiềm năng thủy điện lớn, tập trung trên hệ thống các sông Xê Xan, Xrê Pôk, Đồng Nai…
– Các công trình thủy điện đã hoạt động và đang xây dựng:
+ Chỉ từ thập kỷ 90 của thế kỷ XX trở lại đây, hàng loạt các công trình thủy điện lớn đã và đang được xây dựng.
+ Theo thời gian các bậc thang thủy điện sẽ được hình thành trên các hệ thống sông nổi tiếng của TN như:
– Trên sông Xê Xan : có thủy điện Yaly công suất 720 MW (hoạt động 4/2002), bậc dưới là thủy điện Xê Xan 3, Xê Xan 3A, và Xê Xan 4; ở thượng lưu của Yaly là thủy điện Plây Krông . Dòng Xê Xan cho tổng công suất là 1500 MW.
– Trên dòng Xrê Pốk : đã có thủy điện Đrây H’linh (12 MW), đang xây dựng 6 bậc thang thủy điện là: Buôn Kuôp 280 MW, Buôn Tua Srah (85 MW, khởi công cuối năm 2004), Xrê Pôk 3 (137 MW), Xrê Pôk 4 (33 MW), Đức Xuyên (58 MW), Đrây H’linh đã mở rộng lên 28 MW. Tổng công suất của dòng Xrê Pôk là 600 MW.
– Trên hệ thống sông Đồng Nai : trước đây đã có thủy điện Đa Nhim (160 MW), hiện đang xây dựng thủy điện Đại Ninh (300 MW), Đồng Nai 3 (180 MW), Đồng Nai 4 (340 MW).
*Điều này sẽ là động lực cho sự phát triển kinh tế – xã hội của vùng.
– Thuận lợi cho khai thác và chế biến kim loại màu trên cơ sở giá thành thủy điện rẻ, nhất là khai thác và chế biến bột nhôm từ nguồn bôxit có trữ lượng rất lớn.
– Các hồ thủy điện cung cấp nước tưới vào mùa khô, tiêu nước vào mùa mưa.
– Phát triển du lịch. – Nuôi trồng thủy sản.
+ Việc nâng cấp các cảng biển hiện tại và xây dựng các cảng nước sâu (Dung Quất, Cam Ranh, Vân Phong) tạo điều kiện đẩy mạnh giao lưu quốc tế, thu hút đầu tư, hình thành các khu công nghiệp tập trung, các khu chế xuất.
+ Phát triển ngành thủy sản (khai thác, môi trường, chế biến, xuất khẩu) và ngành du lịch.
– Thúc đẩy mối liên hệ KT với các vùng khác trong cả nước và quốc tế. Giao lưu với các vùng phía Bắc và phía Nam thông qua quốc lộ 1, đường sắt Thống Nhất và đường Hồ Chí Minh; mở rộng trao đổi hàng hóa với Lào và Tây Nguyên nhờ các tuyến đường theo hướng Đông – Tây như QL 19, 25 26, 27.
– Thúc đẩy sự phát triển KT và hình thành cơ cấu KT ở phần phía Tây của vùng. Hiện nay, hoạt động KT của vùng còn tập trung chủ yếu ở phía Đông, trong khi đó vùng phía Tây còn chậm phát triển. Việc nâng cấp, cải tạo cơ sở hạ tầng giúp cho việc khai thác hiệu quả hơn tiềm năng vùng gò đồi, miền núi và hoàn thiện cơ cấu KT theo lãnh thổ của vùng.

 

Thẻ:

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: