RSS

Bài 10. Thiên nhiên nhiệt đới ẩm gió mùa (tiếp theo) (Địa lý 12)

30 Jan
Bài 10. Thiên nhiên nhiệt đới ẩm gió mùa (tiếp theo) (Địa lý 12)

2. Các thành phần tự nhiên khác

a. Địa hình
– Xâm thực mạnh ở miền đồi núi
+ Trên các sườn dốc, bề mặt địa hình bị cắt xẻ, đất bị xói mòn, rửa trôi, nhiều nơi chỉ còn trơ sỏi đá; biểu hiện manh là hiện tượng đất trượt, đá lở.
+ Ở vùng núi đá vôi hình thành địa hình cacxtơ với các hang động, suối cạn, thung khô; các vùng thềm phù sa cổ: bị chia cắt thành các đồi thấp xen thung lũng rộng.
– Bồi tụ nhanh ở đồng bằng hạ lưu sông
+ Hệ quả của quá trình xâm thực, bào mòn mạnh bề mặt địa hình ở miền đồi núi là sự bồi tụ mở mang nhanh chóng ở các đồng bằng hạ lưu sông.
+ Biểu hiện là ở rìa phía nam đồng bằng châu thổ sông Hồng và phía tây nam đồng bằng sông Cửu Long hàng năm lấn ra biển từ vài chục đến gần trăm mét.
=> Quá trình xâm thực-bồi tụ là quá trình chính trong sự hình thành và biến đổi địa hình VN hiện tại.
– Các sinh vật nhiệt đới hình thành nên một số dạng địa hình đặc biệt như đầm lầy – than bùn (U Minh), bãi triều đước – vẹt (Cà Mau), các bờ biển san hô.

b. Sông ngòi
– Mạng lưới sông ngòi (kênh rạch) dày đặc : Trên toàn lãnh thổ có 2.360 (có 9 hệ thống sông lớn diện tích lưu vực trên 10.000 km2)con sông có chiều dài trên 10km. Dọc bờ biển: cứ 20km gặp một cửa sông. Sông ngòi nước ta nhiều, nhưng phần lớn là sông nhỏ.
Vì nước ta có lượng mưa lớn trung bình từ 1.500 – 2.000mm, lãnh thổ hẹp ngang, các sông bắt nguồn từ vùng đồi núi và phần lớn đổ ra các đồng bằng ven Biển Đông.
– Sông ngòi nhiều nước : Tổng lượng nước 839 tỉ m3/ năm. Trong đó phần sinh ra trong nước là 338 tỉ m3/năm (40,3%), còn phần chảy vèo từ bên ngoài là 501 tỉ m3/ năm (59,7%).
Tuy nhiên phân bố không đều, hệ thống sông Mê Kông chiếm 60,4%, hệ thống sông Hồng chiếm 15,1%, còn lại là các hệ thống sông khác.
– Sông ngòi nước ta giàu phù sa : Do có lượng dòng chảy lớn, nên sức xâm thực mạnh, khiến cho sông ngòi nước ta giàu phù sa.
Tổng lượng phù sa hàng năm do sông ngòi ở nước ta là 200 triệu tấn, trong đó hệ thống sông Hồng là 120 triệu tấn/năm (60%), hệ thống sông Mê Kông là 70 triệu tấn/năm (35%)…
– Chế độ nước theo mùa: Nhịp điệu dòng chảy của sông ngòi nước ta theo sát nhịp điệu mưa.
Mùa lũ tương ứng với mùa mưa (chiếm tới 70 – 80% tổng lượng mưa năm), mùa cạn tương ứng với mùa khô (ít mưa).
Chế độ mưa thất thường làm cho chế độ dòng chảy cũng thất thường. Có năm mưa lớn, lũ lớn gây vỡ đê, ngập lụt nhiều nơi, có năm lại ít mưa, nước sông cạn. Có năm lũ về sớm, có năm lũ muộn…ảnh hưởng không nhỏ đến SX và sinh hoạt của con người.

c. Đất
– Quá trình feralit là quá trính hình thành đất đặc trưng cho khí hậu nhiệt đới ẩm. Trong điều kiện nhiệt ẩm cao, quá trình phong hóa diễn ra với cường độ mạnh, tạo nên một lớp đất dày. Mưa nhiều rửa trôi các chất badơ dễ tan (Ca2+, Mg2+, K+), làm đất chua, đồng thời có sự tích tụ ôxi sắt (Fe2O3) và ôxit nhôm (Al2O3) tạo ra màu đỏ vàng. Vì thế loại đất này gọi là đất feralit (Fe-Al) đỏ vàng.
– Quá trình feralit diễn ra mạnh ở vùng đồi núi thấp trên đất mẹ axit, do đó đất feralit là loại đất chính ở vùng đồi núi Việt Nam.
– Nhiều nơi hình thành đá ong : Trong điều kiện lớp phủ thực vật bị phá hủy, mùa khô khắc nghiệt, sự tích tụ oxit trong tầng tích tụ từ trên xuống trong mùa mưa và từ dưới lên trong mùa khô càng nhiều. Khi lớp đất mặt bị rửa trôi hết, tầng tích tụ lộ ra trên mặt, rắn chắc lại thành đá ong.
– Ở các đồi, trên thềm phù sa cổ, quá trình feralit diễn ra mạnh mẽ, nếu mất lớp phủ thực vật, quá trình đá ong có điều kiện tiến triển mạnh.
– Đất đai dễ bị suy thoái : trong điều kiện khí hậu NĐÂGM, đất đai nước ta dễ bị xâm thực, xói mòn, bạc màu…

d. Sinh vật
– Hệ sinh thái rừng nguyên sinh đặc trưng là rừng rậm nhiệt đới ẩm lá rộng thường xanh, còn lại rất ít.
– Hiện nay phổ biến lá rừng thứ sinh với các hệ sinh thái rừng nhiệt đới gió mùa biến dạng khác nhau: rừng gió mùa thường xanh, rừng gió mùa nửa rụng lá, rừng thưa khô rụng lá tới xavan, bụi gai hạn nhiệt đới.
– Thành phần các loài nhiệt đới chiếm ưu thế, thực vật : cây họ Đậu, Vang, Dâu tằm, Dầu; động vật : công, trĩ, gà lôi, vẹt, khỉ, vượn, nai, hoẵng…các loài bò sát, ếch, nhái, côn trùng…
– Hệ sinh thái rừng nhiệt đới ẩm gió mùa phát triển trên đất feralit là cảnh quan tiêu biểu cho thiên nhiên nhiệt đới ẩm gió mùa ở nước ta.

3. Ảnh hưởng của thiên nhiên nhiệt đới ẩm gió mùa đến hoạt động sản xuất và đời sống
a. Ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp
* Thuận lợi
– Thiên nhiên NĐÂGM với nguồn nhiệt phong phú, nguồn tài nguyên đất phong phú, được phát triển trên loại đá mẹ khác nhau đây là nguồn tài nguyên quan trọng cho SX nông nghiệp giúp cây cối, đồng cỏ chăn nuôi, phát triển rừng…xanh tốt quanh năm, tăng trưởng nhanh.
– Đồng thời cho phép phát triển nhiều loại cây từ ưa nhiệt của vùng nhiệt đới như : bông, lúa gạo…đến các loại cây của xứ cận nhiệt hay ôn đới.
– Ven biển giàu sinh vật biển, nhiều đảo, vũng vịnh, cửa sông, vừa có giá trị đánh bắt, vừa có giá trị nuôi trồng hải sản.
– Trên đất liền có nhiều kênh rạch, sông ngòi, ao hồ, diện tích đất mặt nước vừa là nguồn nước, nguồn phù sa quan trọng cho trồng trọt, vừa mở ra khả năng lớn cho để nuôi trồng thủy sản…đưa nước ta thành quốc gia có ngành thủy sản phát triển.
– Tạo điều kiện phát triển nền nông nghiệp lúa nước, tăng vụ, đa dạng hóa cây trồng, vật nuôi. Cần tận dụng mặt thuận lợi này để không ngừng nâng cao năng suất cây trồng và nhanh chóng phục hồi lớp phủ thực vật trên đất trống bằng mô hình nông-lâm kết hợp.
* Khó khăn
– Trong điều kiện thời tiết nóng ẩm thì sâu bệnh, dịch hại cây trồng, gia súc dễ bùng phát, lây la trên diện rộng.
– Các diễn biến khí hậu thất thường, cực đoan, nhiễu động (ngập úng, hạn hán, rét đậm, rét hại…) thường xảy ra vào các thời kỳ chuyển mùa làm cho SX NN nước ta càng thêm bấp bênh.
– Xói mòn, rửa trôi đất màu có tốc độ nhanh, đặc biệt trên đất dốc với lớp phủ thực vật bị tàn phá.
– Qúa trình mặn hóa, phèn hóa đất ở những vùng trũng, ven kênh rạch, sông ngòi và vùng đất thấp ven biển gây khó khăn, tốn kém trong việc cải tạo những loại đất trồng này.

b. Ảnh hưởng đến các hoạt động sản xuất khác và đời sống
* Thuận lợi
-Có điều kiện phát triển các ngành kinh tế như: lâm nghiệp, thủy sản, giao thông vận tải và du lịch…và đẩy mạnh các hoạt động khai thác, xây dựng…nhất là vào mùa khô.
– Tài nguyên sức nước, sức gió, năng lượng mặt trời…tạo điều kiện phát triển CN năng lượng, là động lực phát triển KTXH trong CNH và phát triển bền vững đất nước.
– Mùa khô tạo điều kiện thuận lợi cho thu hoạch và phơi sấy các sản phẩm nông nghiệp.
* Khó khăn: Các hoạt động giao thông vận tải, du lịch, công nghiệp khai thác … chịu ảnh hưởng trực tiếp của sự phân mùa khí hậu, chế độ nước của sông ngòi.
+ Độ ẩm cao gây khó khăn cho việc bảo quản máy móc, thiết bị, nông sản.
+ Các thiên tai như bão, lũ lụt, hạn hán hằng năm gây tổn thất rất lớn cho mọi ngành sản xuất, gây thiệt hại về người và tài sản.
+ Các hiện tượng thời tiết thất thường như dông lốc, mưa đá, sương muối, rét hại, khô nóng … cũng gây ảnh hưởng lớn đến sản xuất và đời sống.
+ Môi trường thiên nhiên dễ bị suy thoái.

TRẢ LỜI CÂU HỎI LIÊN QUAN

1. Vì sao địa hình đồi núi nước ta bị xâm thực mạnh?

Địa hình đồi núi nước ta bị xâm thực mạnh là do:
-Có độ cao và độ dốc lớn.
-Tác động của yếu tố khí hậu. Nền nhiệt ẩm cao với một mùa mưa và một mùa khô xen kẽ đã thúc đẩy quá trình xâm thực cơ giới diễn ra mạnh mẽ.
-Biểu hiện: bề mặt địa hình bị cắt xẻ, hẻm vực, khe rãnh sâu…

2. Hãy nêu ảnh hưởng của địa hình xâm thực, bồi tụ mạnh đến việc sử dụng đất ở nước ta.

-Tích cực: bồi đắp mở rộng đồng bằng hạ lưu sông.
-Tiêu cực: đất bị bào mòn, rửa trôi, nhiều nơi chỉ còn trơ sỏi đá.

3. Vì sao sông ngòi nước ta có đặc điểm nêu trên?

-Do nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa có lượng mưa lớn đã làm cho quá trình cắt xe địa hình diễn ra mạnh nên nước ta có mạng lưới sông ngòi dày đặc.
-Do mưa nhiều nên sông ngòi nước ta có lượng mưa lớn, hơn nữa sông nước ta còn nhận một lượng nước lớn từ lưu vực nằm ngoài lãnh thổ.
-Do quá trình xâm thực mạnh ở vùng đồi núi nên sông ngòi giàu phù sa.
-Do mưa theo mùa nên sông ngòi nước ta có chế độ nước theo mùa.

4. Đất feralit có đặc tính gì và ảnh hưởng như thế nào đến việc sử dụng đất trong trồng trọt.

-Đặc tính của đất feralit là lớp vỏ phong hóa dày, đất thoáng khí, thoát nước, nghèo các chất badơ, nhiều ôxít sắt, nhôm; đất chua, dễ bị thoái hóa.
-Loại đất này thích hợp để trồng rừng, cây công nghiệp lâu năm, cây ăn quả và đồng cỏ cho chăn nuôi, nhưng không thích hợp để trồng lúa và các cây ngắn ngày. Trong quá trình trồng trọt cần phải cải tạo đất, giảm độ chua, hạn hán, xói mòn, rửa trôi đất.

 

5. Hãy nêu biểu hiện của thiên nhiên nhiệt đới ẩm gió mùa qua các thành phần địa hình, sông ngòi ở nước ta.

a. Địa hình
– Xâm thực mạnh ở miền đồi núi
+ Trên các sườn dốc, bề mặt địa hình bị cắt xẻ, đất bị xói mòn, rửa trôi, nhiều nơi chỉ còn trơ sỏi đá; biểu hiện manh là hiện tượng đất trượt, đá lở.
+ Ở vùng núi đá vôi hình thành địa hình cacxtơ với các hang động, suối cạn, thung khô; các vùng thềm phù sa cổ: bị chia cắt thành các đồi thấp xen thung lũng rộng.
– Bồi tụ nhanh ở đồng bằng hạ lưu sông
+ Hệ quả của quá trình xâm thực, bào mòn mạnh bề mặt địa hình ở miền đồi núi là sự bồi tụ mở mang nhanh chóng ở các đồng bằng hạ lưu sông.
+ Biểu hiện là ở rìa phía nam đồng bằng châu thổ sông Hồng và phía tây nam đồng bằng sông Cửu Long hàng năm lấn ra biển từ vài chục đến gần trăm mét.
=> Quá trình xâm thực-bồi tụ là quá trình chính trong sự hình thành và biến đổi địa hình VN hiện tại.
– Các sinh vật nhiệt đới hình thành nên một số dạng địa hình đặc biệt như đầm lầy – than bùn (U Minh), bãi triều đước – vẹt (Cà Mau), các bờ biển san hô.

b. Sông ngòi
– Mạng lưới sông ngòi (kênh rạch) dày đặc : Trên toàn lãnh thổ có 2.360 (có 9 hệ thống sông lớn diện tích lưu vực trên 10.000 km2)con sông có chiều dài trên 10km. Dọc bờ biển: cứ 20km gặp một cửa sông. Sông ngòi nước ta nhiều, nhưng phần lớn là sông nhỏ.
Vì nước ta có lượng mưa lớn trung bình từ 1.500 – 2.000mm, lãnh thổ hẹp ngang, các sông bắt nguồn từ vùng đồi núi và phần lớn đổ ra các đồng bằng ven Biển Đông.
– Sông ngòi nhiều nước : Tổng lượng nước 839 tỉ m3/ năm. Trong đó phần sinh ra trong nước là 338 tỉ m3/năm (40,3%), còn phần chảy vèo từ bên ngoài là 501 tỉ m3/ năm (59,7%).
Tuy nhiên phân bố không đều, hệ thống sông Mê Kông chiếm 60,4%, hệ thống sông Hồng chiếm 15,1%, còn lại là các hệ thống sông khác.
– Sông ngòi nước ta giàu phù sa : Do có lượng dòng chảy lớn, nên sức xâm thực mạnh, khiến cho sông ngòi nước ta giàu phù sa.
Tổng lượng phù sa hàng năm do sông ngòi ở nước ta là 200 triệu tấn, trong đó hệ thống sông Hồng là 120 triệu tấn/năm (60%), hệ thống sông Mê Kông là 70 triệu tấn/năm (35%)…
– Chế độ nước theo mùa: Nhịp điệu dòng chảy của sông ngòi nước ta theo sát nhịp điệu mưa.
Mùa lũ tương ứng với mùa mưa (chiếm tới 70 – 80% tổng lượng mưa năm), mùa cạn tương ứng với mùa khô (ít mưa).
Chế độ mưa thất thường làm cho chế độ dòng chảy cũng thất thường. Có năm mưa lớn, lũ lớn gây vỡ đê, ngập lụt nhiều nơi, có năm lại ít mưa, nước sông cạn. Có năm lũ về sớm, có năm lũ muộn…ảnh hưởng không nhỏ đến SX và sinh hoạt của con người.

 

6. Thiên nhiên nhiệt đới ẩm gió mùa biểu hiện qua các thành phần đất, sinh vật và cảnh quan thiên nhiên như thế nào?

a. Đất
– Quá trình feralit là quá trính hình thành đất đặc trưng cho khí hậu nhiệt đới ẩm. Trong điều kiện nhiệt ẩm cao, quá trình phong hóa diễn ra với cường độ mạnh, tạo nên một lớp đất dày. Mưa nhiều rửa trôi các chất badơ dễ tan (Ca2+, Mg2+, K+), làm đất chua, đồng thời có sự tích tụ ôxi sắt (Fe2O3) và ôxit nhôm (Al2O3) tạo ra màu đỏ vàng. Vì thế loại đất này gọi là đất feralit (Fe-Al) đỏ vàng.
– Quá trình feralit diễn ra mạnh ở vùng đồi núi thấp trên đất mẹ axit, do đó đất feralit là loại đất chính ở vùng đồi núi Việt Nam.
– Nhiều nơi hình thành đá ong : Trong điều kiện lớp phủ thực vật bị phá hủy, mùa khô khắc nghiệt, sự tích tụ oxit trong tầng tích tụ từ trên xuống trong mùa mưa và từ dưới lên trong mùa khô càng nhiều. Khi lớp đất mặt bị rửa trôi hết, tầng tích tụ lộ ra trên mặt, rắn chắc lại thành đá ong.
– Ở các đồi, trên thềm phù sa cổ, quá trình feralit diễn ra mạnh mẽ, nếu mất lớp phủ thực vật, quá trình đá ong có điều kiện tiến triển mạnh.
– Đất đai dễ bị suy thoái : trong điều kiện khí hậu NĐÂGM, đất đai nước ta dễ bị xâm thực, xói mòn, bạc màu…

b. Sinh vật (và cảnh quan thiên nhiên)
– Hệ sinh thái rừng nguyên sinh đặc trưng là rừng rậm nhiệt đới ẩm lá rộng thường xanh, còn lại rất ít.
– Hiện nay phổ biến lá rừng thứ sinh với các hệ sinh thái rừng nhiệt đới gió mùa biến dạng khác nhau: rừng gió mùa thường xanh, rừng gió mùa nửa rụng lá, rừng thưa khô rụng lá tới xavan, bụi gai hạn nhiệt đới.
– Thành phần các loài nhiệt đới chiếm ưu thế, thực vật : cây họ Đậu, Vang, Dâu tằm, Dầu; động vật : công, trĩ, gà lôi, vẹt, khỉ, vượn, nai, hoẵng…các loài bò sát, ếch, nhái, côn trùng…
– Hệ sinh thái rừng nhiệt đới ẩm gió mùa phát triển trên đất feralit là cảnh quan tiêu biểu cho thiên nhiên nhiệt đới ẩm gió mùa ở nước ta.

 

7. Hãy nêu ảnh hưởng của thiên nhiên nhiệt đới ẩm gió mùa đến hoạt động sản xuất và đời sống.

a. Ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp
* Thuận lợi
– Thiên nhiên NĐÂGM với nguồn nhiệt phong phú, nguồn tài nguyên đất phong phú, được phát triển trên loại đá mẹ khác nhau đây là nguồn tài nguyên quan trọng cho SX nông nghiệp giúp cây cối, đồng cỏ chăn nuôi, phát triển rừng…xanh tốt quanh năm, tăng trưởng nhanh.
– Đồng thời cho phép phát triển nhiều loại cây từ ưa nhiệt của vùng nhiệt đới như : bông, lúa gạo…đến các loại cây của xứ cận nhiệt hay ôn đới.
– Ven biển giàu sinh vật biển, nhiều đảo, vũng vịnh, cửa sông, vừa có giá trị đánh bắt, vừa có giá trị nuôi trồng hải sản.
– Trên đất liền có nhiều kênh rạch, sông ngòi, ao hồ, diện tích đất mặt nước vừa là nguồn nước, nguồn phù sa quan trọng cho trồng trọt, vừa mở ra khả năng lớn cho để nuôi trồng thủy sản…đưa nước ta thành quốc gia có ngành thủy sản phát triển.
– Tạo điều kiện phát triển nền nông nghiệp lúa nước, tăng vụ, đa dạng hóa cây trồng, vật nuôi. Cần tận dụng mặt thuận lợi này để không ngừng nâng cao năng suất cây trồng và nhanh chóng phục hồi lớp phủ thực vật trên đất trống bằng mô hình nông-lâm kết hợp.
* Khó khăn
– Trong điều kiện thời tiết nóng ẩm thì sâu bệnh, dịch hại cây trồng, gia súc dễ bùng phát, lây la trên diện rộng.
– Các diễn biến khí hậu thất thường, cực đoan, nhiễu động (ngập úng, hạn hán, rét đậm, rét hại…) thường xảy ra vào các thời kỳ chuyển mùa làm cho SX NN nước ta càng thêm bấp bênh.
– Xói mòn, rửa trôi đất màu có tốc độ nhanh, đặc biệt trên đất dốc với lớp phủ thực vật bị tàn phá.
– Qúa trình mặn hóa, phèn hóa đất ở những vùng trũng, ven kênh rạch, sông ngòi và vùng đất thấp ven biển gây khó khăn, tốn kém trong việc cải tạo những loại đất trồng này.

b. Ảnh hưởng đến các hoạt động sản xuất khác và đời sống
* Thuận lợi
-Có điều kiện phát triển các ngành kinh tế như: lâm nghiệp, thủy sản, giao thông vận tải và du lịch…và đẩy mạnh các hoạt động khai thác, xây dựng…nhất là vào mùa khô.
– Tài nguyên sức nước, sức gió, năng lượng mặt trời…tạo điều kiện phát triển CN năng lượng, là động lực phát triển KTXH trong CNH và phát triển bền vững đất nước.
– Mùa khô tạo điều kiện thuận lợi cho thu hoạch và phơi sấy các sản phẩm nông nghiệp.
* Khó khăn: Các hoạt động giao thông vận tải, du lịch, công nghiệp khai thác … chịu ảnh hưởng trực tiếp của sự phân mùa khí hậu, chế độ nước của sông ngòi.
+ Độ ẩm cao gây khó khăn cho việc bảo quản máy móc, thiết bị, nông sản.
+ Các thiên tai như bão, lũ lụt, hạn hán hằng năm gây tổn thất rất lớn cho mọi ngành sản xuất, gây thiệt hại về người và tài sản.
+ Các hiện tượng thời tiết thất thường như dông lốc, mưa đá, sương muối, rét hại, khô nóng … cũng gây ảnh hưởng lớn đến sản xuất và đời sống.
+ Môi trường thiên nhiên dễ bị suy thoái.

 
 

Thẻ:

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: